PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Vụ án ly hôn - Chồng đứng tên tài sản thì vợ có được chia phần không?



huyenhuyen698@gmail.com
11-22-2016, 01:43 PM
Khi vụ án ly hôn (http://luatsuthudo.vn/vu-an-ly-hon-nguyen-tac-phan-chia-tai-san) của hai vợ chồng còn gặp vấn đề vấn đề phân chia tài sản, lúc nào tài sản được coi là của chung, lúc nào là riêng của một người, và phân chia ra sao?
http://luatsuthudo.vn/uploads/files/2016/05/30/thumbs/150612-nguyen-tac-phan-chia-tai-san-600x400.jpg
Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2002 thì phân chia tài tản chung bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do cùng làm, hoạt động cung cấp , buôn bán và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và các tài sản khác mà vợ chồng ký hợp đồng là tài sản chung.
Thế nào là tài sản riêng, tài sản chung – vụ án ly hôn?
1. Tài sản riêng trong vụ án ly hôn là gì?
Về Tài sản riêng của vợ, chồng theo Quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2002 gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản một Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ sử dụng , tư trang tư nhân.
Khoản hai Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định:“Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng thực quyền có phải ghi tên của cả vợ chồng”.
Không những thế, tại Điểm b Khoản 3 nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP mang chỉ dẫn cụ thể như sau: “Thực tiễn cho thấy chỉ có tài sản rất lớn, rất quan trọng với đời sống gia đình thì trong giấy chứng thực quyền sở hữu mới ghi tên của cả vợ chồng (như: nhà ở, quyền dùng đất...), song cũng không phai trong mọi trường hợp. Đối sở hữu những tài sản khác phải đăng ký quyền mang, nhưng trong giấy chứng thực thường chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng (như: xe môtô, xe ôtô, tàu, thuyền chuyển vận ...). Mặt khác, khoản 1 Điều 32 đã quy định cụ thể về tài sản riêng của vợ chồng. Để bảo vệ lợi quyền chính đáng của các đối tác , trong trường hợp tài sản do vợ, chồng mang được trong thời kỳ hôn nhân mà luật pháp quy định phải đăng ký quyền mang , nhưng trong giấy chứng thực quyền có chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không với mâu thuẫn thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu như với tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền mang phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này mang được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32 (ví dụ: được thừa kế riêng một khoản tiền và tiêu dùng khoản tiền này mua cho bản thân 1 dòng xe môtô mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng). Trong trường hợp ko chứng minh được tài sản đang với mâu thuẫn này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng”
2. Tài sản chung trong vụ án ly hôn là gì?
tương tự, căn cứ vào quy định của luật pháp, nếu không có tranh chấp , thì dù trong sổ hồng căn nhà ba chồng tặng cho con trai chỉ đứng tên 1 mình người chồng, thì quyền tiêu dùng đất và tài sản gắn liền với đất vẫn là tài sản chung của con trai và con dâu, do được ba chồng tặng cho trong giai đoạn hôn nhân của hai vợ chồng.
Trường hợp, người vợ đang tranh chấp đòi chia căn nhà có người chồng. bởi vậy , theo quy định của luật pháp, ví như người chồng chứng minh được căn nhà này được ba tặng riêng trong giai đoạn hôn nhân, thì căn nhà thuộc về tài sản riêng của người chồng, nghĩa là người vợ nếu ly hôn sẽ không được chia căn nhà đấy sở hữu người chồng.
Mặt khác, nếu như người chồng ko chứng minh được căn nhà là tài sản riêng của mình, thì theo quy định tại Khoản 3 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, căn nhà sẽ thuộc về tài sản chung của 2 vợ chồng. như vậy có tức thị , nếu như ly hôn, người vợ sẽ được chia tài sản chung, trong đó với căn nhà.
- Thứ hai , việc chia tài sản chung lúc ly hôn căn cứ vào Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 như sau:
“1. Việc phân chia tài sản do đương sự thỏa thuận; nếu ko thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án khắc phục . Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền có của bên đấy .
hai . Việc chia tài sản chung được khắc phục theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét cảnh ngộ của mỗi bên, trạng thái tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo dựng, duy trì, phát triển tài sản này. lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động mang thu nhập;
b) bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, ko có khả năng lao động và ko sở hữu tài sản để tự nuôi mình;
c) bảo vệ ích lợi chính đáng của mỗi bên trong cung cấp , buôn bán và nghề nghiệp để các đối tác có điều kiện tiếp diễn cần lao tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật với giá trị to hơn phần mình được lợi thì phải trả tiền cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
3. Việc thanh toán trách nhiệm chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu như không ký hợp đồng được thì bắt buộc Tòa án giải quyết”.
Vậy theo nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng trong thời gian hôn nhân sẽ được chia đôi cho hai bên, còn về tài sản riêng thì được giữ cho riêng mình.
Bài viết khác:
>> Tranh chấp đất đai (http://luatsuthudo.vn/cach-giai-quyet-tranh-chap-dat-dai)
>> game bắn cá đổi thẻ cào (http://www.bancadoithuong.com/)